In ấn

Thuốc nhuộm không hòa tan ứng dụng như thế nào khi in nhanh?

Thuôc nhuộm khổng hòa tan trong nước
Để in nhuộm, người ta vẫn dùng một sô thuốc nhuộm không tan trong nước hoặc lúc đẩu tan tạm thời, khi bắt vào vật liệu sẽ chuyển về dạng không tan
Thuỗc nhuộm hoàn nguyỂn không tan
Thuốc nhuộm hoàn nguyên là những hợp chất màu hữu cơ cùng có chung một tính chất là không tan trong nước. Nhưng do trong phân tử của chúng có chứa các nhóm xeton, nên dưới tác dụng của chất khử sẽ chuyển về dạng lâyco axit. Dạng lâyco axit này chưa tan trong nuớc nhưng tan trong trong kiềm, gọi là lâyco bazơ. Dạng lâyco bazd không những hòa tan trong nước mà còn có ái lực với các loại xơ xenlulo nên chúng bắt màu mạnh vào xơ. Mặt khác, sau khi bắt vào xơ, hợp chất lâyco bazơ của thuốc nhuộm hoàn nguyên lại dễ bị thủy phân và oxi hóa về dana không tan ban đầu. Vì thế, chúnq có tên gọi là thuốc nhuộm hoàn nguyên Có thể tóm tắt quá trình trên như sau :
+IH| +NaOH
Ar = c = O Ar = c – OH Ar ü c –
ONa
Dạng +[0] Lâỵco axit +H20 Lâyco bazo không tan
Khi chuyển sang dạng lâyco bazd, thì màu của thuốc nhuộm sẽ biến đổi, thường là nhạt đi (gọi là màu ẩn). Khi oxi hóa hợp chất lâyco, màu ban đầu được phục hồi – quá trinh này gọi là hiện màu. Đây là đặc điểm riêng của thuốc nhuộm hoàn nguyên. Người ta vận dụng tính chất kỹ thuật này của nó để thiết lập các quy trình hợp lý trong in nhanh bằng kỹ thuật nhuộm.
vể mặt cấu tạo, thuốc nhuộm hoàn nguyên bao gồm hai loại hợp chất hữu cơ. Loại thứ nhất là các hợp chất kiểu índigo (xanh chàm) và dẩn xuất của nó. Loại thứ hai từ các hợp chất thơm đa vòng gồm nhiểu phân nhóm, nhưng các dẫn xuất cúa antrakinon chiếm tỷ lệ lớn trong loại này. Do có cấu tạo hóa học khác nhau, nên thuốc nhuộm hoàn nguyên khác nhau về điều kiện khử, điều kiện nhuộm (nhiệt độ, nồng độ chất khử, nồng độ kiềm …).